Lần đầu tôi in một mô hình giải phẫu cho bác sĩ là một khúc xương hàm dưới, dựng từ ảnh CT của bệnh nhân. Mô hình chẳng có gì cao siêu: nhựa resin trắng, in mất khoảng sáu tiếng. Nhưng khi bác sĩ cầm nó lên, xoay xoay rồi nói “giờ thì tôi biết phải cắt chỗ nào”, tôi hiểu in 3D trong y tế có giá trị khác hẳn so với in một chiếc vỏ hộp hay một mô hình trưng bày.
Tháng này có khá nhiều tin đáng chú ý về in 3D y sinh, cả trong nước lẫn quốc tế. Ghép chúng lại, ta có một bức tranh khá rõ về những gì đã làm được và những gì còn phải chờ.

Mạch máu nhân tạo: nhóm Việt tự làm chủ hệ in sinh học
Theo VnExpress, nhóm nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Ngọc Đỉnh (Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội) đã theo đuổi hơn hai năm để tự làm chủ toàn bộ hệ máy in 3D sinh học, phối hợp với VinUni và Học viện Quân y. Nhóm dùng phương pháp Kenzan: găm các khối cầu tế bào lên một “bàn kim”, đòi hỏi đặt kim chính xác tới 0,001 mm. Mạch máu in 3D đã được ghép thử vào động mạch chủ bụng của chuột thí nghiệm, và toàn bộ chuột duy trì lưu thông máu, huyết áp ổn định.
Bối cảnh khiến nghiên cứu này có ý nghĩa: theo Bộ Y tế, Việt Nam có khoảng 8.000–9.000 người cần ghép thận, 10.000 người cần ghép gan và 1.000 người cần ghép tim. TS Thân Thị Trang Uyên trong nhóm nói một ý mà tôi rất đồng cảm: nếu chỉ nhập máy, đội ngũ trong nước sẽ chỉ đóng vai người vận hành một hệ sinh thái khép kín của nước ngoài.
Tuy vậy, PGS Đỗ Xuân Hai cũng thẳng thắn rằng rào cản pháp lý có thể kéo dài 5–10 năm. Những hướng có thể ứng dụng sớm nhất là sụn tai, sụn gối, da và mô dùng để thử thuốc. Song song, một nhóm khác tại ĐHQG TP.HCM đã in mô da bằng mực sinh học từ gelatin, alginate và collagen, hướng tới điều trị bỏng, vết thương khó lành, thử thuốc và mỹ phẩm.


Stent nitinol in 3D dạng bện: uốn mà không gãy
Ở châu Âu, 3D Printing Industry đưa tin viện IMDEA và Đại học Bách khoa Madrid (UPM), có sự tham gia của MIT, đã in 3D stent nitinol dạng bện như sợi dệt. Stent có thể nén còn 50% đường kính mà vẫn phục hồi trên 90% hình dạng. Lực ép lên thành mạch thấp hơn tới 5 lần so với dạng lưới in 3D thông thường, loại vốn có nguy cơ gãy khi biến dạng gần 25%.
Với người làm kỹ thuật, điều hay ở đây là cách thiết kế hình học giải quyết vấn đề vật liệu. Nitinol có tính siêu đàn hồi, nhưng cấu trúc lưới cứng nhắc lại tạo điểm tập trung ứng suất. Chuyển sang cấu trúc bện, các “sợi” có thể trượt nhẹ lên nhau, phân tán biến dạng. Đây là thứ chỉ in 3D mới làm được dễ dàng. Dù vậy, nhóm cho biết stent chưa được thử trên mô sống; bước tiếp theo là thử in vitro rồi mới đến thử trên động vật.
Nhựa nha khoa đạt CE: ứng dụng đã thương mại hóa
Nếu mạch máu và stent còn ở phòng thí nghiệm, thì nha khoa là lĩnh vực in 3D y tế đã thương mại hóa mạnh nhất. Cuối tháng 9, AmeraLabs giới thiệu ba loại nhựa nha khoa đạt CE Class I: một loại cho khay lấy dấu, một loại cho máng hướng dẫn phẫu thuật implant có độ cứng Shore D 85 và hấp tiệt trùng được, một loại cho răng thử với mô-đun uốn trên 2 GPa. Chúng đóng rắn ở bước sóng 385/405 nm, dùng được trên nhiều dòng máy resin phổ biến, và đạt chuẩn tương thích sinh học ISO 10993-1.


Dữ liệu 3D: nền móng của mọi ứng dụng y tế
Có một tin không hẳn về in 3D nhưng tôi thấy rất liên quan. VnExpress kể về hệ thống dựng hình 3D từ ảnh CT rồi chồng lên hình X-quang trực tiếp để dẫn đường đặt stent động mạch chủ. Mỗi lượt chụp chỉ mất 5–20 giây, và từ 2023 đến tháng 8/2026 hệ thống đã hỗ trợ hơn 1.600 ca tại một bệnh viện ở Hà Nội.
Điểm chung của tất cả: mọi thứ bắt đầu từ dữ liệu 3D chính xác. Dù là in mô hình giải phẫu, máng hướng dẫn phẫu thuật hay mạch máu sinh học, khâu chuyển ảnh CT/MRI thành mô hình 3D sạch, đúng kích thước vẫn quyết định thành bại.

Góc nhìn kỹ sư: Việt Nam nên bắt đầu từ đâu?
Từ kinh nghiệm làm việc với các phòng khám và bệnh viện, tôi thấy có ba mảng mà in 3D có thể đóng góp ngay, không phải chờ 5–10 năm:
- Mô hình giải phẫu để lập kế hoạch phẫu thuật và giải thích cho bệnh nhân.
- Máng hướng dẫn phẫu thuật trong nha khoa và chỉnh hình, dùng vật liệu đã có chứng nhận.
- Dụng cụ hỗ trợ và nẹp cá nhân hóa từ dữ liệu quét 3D cơ thể.
In 3D sinh học là cuộc chạy đường dài, và việc nhóm nghiên cứu trong nước tự làm chủ công nghệ lõi là tín hiệu rất đáng mừng. Trong lúc chờ khung pháp lý hoàn thiện, những ứng dụng “khiêm tốn” hơn đã có thể giúp bác sĩ mổ chính xác hơn và bệnh nhân hồi phục nhanh hơn ngay từ hôm nay.


Về CT3D Group và In3D.edu.vn
CT3D Group cung cấp máy in 3D resin, máy quét 3D độ chính xác cao và dịch vụ in mô hình giải phẫu, tạo mẫu nhanh cho lĩnh vực y tế, nha khoa và sản xuất. Kỹ sư CT3D hỗ trợ từ khâu xử lý dữ liệu CT/quét 3D đến in và hoàn thiện sản phẩm.
Các bác sĩ, kỹ thuật viên muốn tự làm chủ quy trình có thể tham khảo khóa học tại đào tạo in 3D – In3D.edu.vn. Xem thêm giải pháp tại CT3D Group – công nghệ in 3D và quét 3D.
Nguồn tham khảo: VnExpress (30/6, 4/6, 7/10/2026), 3D Printing Industry (20/10, 29/9/2026).
Nguyễn Cường tổng hợp
Câu hỏi thường gặp
In 3D y sinh khác gì in 3D mô hình giải phẫu thông thường?
In 3D y sinh (bioprinting) dùng mực sinh học chứa tế bào sống hoặc vật liệu tương thích sinh học để tạo mô có khả năng sống và tích hợp vào cơ thể. Còn mô hình giải phẫu chỉ là bản sao hình học bằng nhựa resin, PLA hoặc vật liệu tương tự, dùng để quan sát, lập kế hoạch phẫu thuật và giảng dạy. Mô hình giải phẫu có thể làm ngay hôm nay, trong khi in mô sống vẫn chủ yếu ở giai đoạn nghiên cứu.
Cần dữ liệu gì để in một mô hình giải phẫu từ ảnh CT hoặc MRI?
Cần file ảnh định dạng DICOM xuất từ máy CT hoặc MRI, càng mỏng lát cắt thì mô hình càng chi tiết. Dữ liệu được phân vùng (segmentation) để tách xương, mạch máu hoặc cơ quan cần in, sau đó làm sạch lưới và xuất ra file STL. Chất lượng bước phân vùng quyết định độ chính xác của mô hình nhiều hơn bản thân máy in.
Mô hình in 3D có được dùng trực tiếp trong phòng mổ không?
Chỉ những sản phẩm làm từ vật liệu có chứng nhận y tế phù hợp và chịu được tiệt trùng mới nên đưa vào phòng mổ, ví dụ máng hướng dẫn phẫu thuật bằng nhựa nha khoa đạt chuẩn. Mô hình giải phẫu bằng resin thông thường chỉ nên dùng ngoài vùng vô trùng để tham khảo, tư vấn bệnh nhân và diễn tập. Việc sử dụng cụ thể cần tuân theo quy định của cơ sở y tế và cơ quan quản lý.
Công nghệ in 3D nào phù hợp nhất cho mô hình y tế?
In resin (SLA/DLP) thường được ưu tiên vì bề mặt mịn, chi tiết nhỏ rõ và có các dòng nhựa nha khoa tương thích sinh học. In FDM phù hợp với mô hình xương kích thước lớn cần chi phí thấp, còn công nghệ đa màu hoặc đa vật liệu giúp phân biệt mô, mạch máu và khối u trên cùng một mô hình. Lựa chọn tùy mục đích: quan sát, diễn tập hay dùng trong thủ thuật.
Bệnh viện hoặc phòng khám muốn bắt đầu ứng dụng in 3D thì nên làm gì trước?
Nên bắt đầu bằng một ca ứng dụng cụ thể, chẳng hạn in mô hình xương hàm hoặc khung chậu để lập kế hoạch mổ, thay vì đầu tư ngay cả hệ thống. Có thể thuê dịch vụ xử lý dữ liệu CT và in mô hình để đánh giá hiệu quả, sau đó mới cân nhắc mua máy và đào tạo nhân sự. Liên hệ CT3D qua Hotline/Zalo 0975 008 728 hoặc contact@ct3dgroup.com để được tư vấn quy trình phù hợp.